Danh mục: Blogging

  • Letting Go Through a Strand of Hair

    Chữ Buông Từ Một Mái Tóc

    Thúy Võ / Thân Khai Thí Nhậm

    Ngay ngày đầu tiên khi nghe các anh chị trong hội TBPS giới thiệu về chương trình Xuất Gia Vị Tha (XGVT), tôi đã không hề ngần ngại mà cho các anh chị biết ngay ý muốn tham gia chương trình của mình. Đúng vậy, vì ý nghĩ đi xuất gia đã có trong tôi từ bao nhiêu năm trước và cho dù mọi người nhấn mạnh, tham dự XGVT là tôi phải xuống tóc. 

    Lúc đó là tháng 7 năm 2024. Cho đến khoảng tháng 10, ban tổ chức mới gởi thông báo để bắt đầu việc ghi danh tham dự. Tôi hoàn thành việc làm thủ tục ghi danh, nộp lệ phí rồi lập tức tiến hành những việc quan trọng như xin nghỉ phép, kiếm người trông con, đặt mua áo tràng, áo giới chỉ trong vòng 1 đến 2 tuần. 

    Tôi có lo lắng không? Câu trả lời là: Có. Điều lo lắng đầu tiên là liệu tôi có đủ “trình độ” để đi “tu” chưa khi mà lúc đó tôi không có một kiến thức gì về Phật pháp, chưa có hiểu biết gì về giáo pháp Hoa Nghiêm của Thầy. Điều lo ngại thứ nhì : Sau khi cạo đầu rồi, trở lại đi làm, tôi sẽ phải làm gì với cái đầu trọc của mình đây? Phải đội nón hay đội tóc giả không? Câu hỏi này cứ lẩn quẩn trong tâm trí của tôi nhiều ngày tháng.

    Tôi rất thương mái tóc của mình. Bình thường, tôi chăm sóc tóc mình bằng những sản phẩm tốt nhất. Thậm chí tôi không thích sấy tóc vì sợ làm tóc hư. Rồi tôi cũng rất thích coi những video hướng dẫn cách bới tóc, và thích mân mê tóc mình khi có thời gian. Nhưng quyết định cạo đầu, tôi không sợ sẽ “mất tóc” vì tôi biết tóc sẽ mọc trở lại. Mỗi ngày trông đợi đến ngày đi xuất gia, tôi soi gương và tưởng tượng mình sẽ ra sao sau ngày trở về lại cuộc sống bình thường. Và nó diễn ra trong hơn 6 tháng để tôi chuẩn bị tinh thần.

    Vậy mà đến ngày Thầy xuống tóc cho tôi xong, rồi nhập trại để vào chương trình XGVT, sống giữa tăng đoàn toàn là những người cũng không có tóc như tôi. Ai cũng nói nhìn và khen tôi là “sáng sủa” và “đẹp” hơn khi còn có tóc, vậy mà tôi không dám nhìn thẳng mình trong gương tới mấy ngày sau đó. Tôi không dám soi gương ngay cả khi tự cạo đầu để giữ cho đầu được “láng o”. Hình như đến ngày thứ 5, tôi mới dám “lén” để soi gương. Nhìn mình trong gương, tôi thấy mình giống đàn ông, tôi thấy mình giống “dân anh chị”. Tâm trạng rất phức tạp. Tuy vậy, không bao giờ tôi hối hận về quyết định đi xuất gia; ngay cả khi quay trở về cuộc sống bình thường, tôi cũng không hối hận, và cũng “không thèm” đội tóc giả khi ra đường hay đi làm. Tôi cười, hoặc cười thầm khi thấy mấy đứa bé, hoặc có vài người nhìn tôi lạ lẫm và với dấu chấm hỏi trong ánh mắt. Điều âu lo về mái tóc, về khuôn mặt với cái đầu trọc của mình trước đây hình như đã rơi rụng theo những lọn tóc Thầy cắt bỏ cho tôi ngày trước khi lên trại.

    Điều tôi cảm nhận được sau khi cắt đi mái tóc của mình là: Nhẹ nhõm. Và thấm được chữ “Buông”. 

    Khi quyết định đi tu và cạo tóc, tôi đã học chữ “ Buông Bỏ”. Sáu tháng trời chuẩn bị, vậy mà tôi vẫn không tránh khỏi sự khủng hoảng trong lòng. Cái “shock”( hoảng loạn) thật sự. Dù bây giờ cái “shock” đó đã qua, nhưng không bao giờ tôi quên được cái cảm giác đó. Tôi học được bài học vô giá: chữ “Buông” không dễ làm. Cho dù chỉ là một mái tóc mà mình biết chắc là sẽ có lại, vậy mà vẫn bị shock. Vậy cái ngày mà mình lìa xa cõi đời này, mình sẽ càng trong cơn “ shock” (hoảng loạn) mãnh liệt biết bao nhiêu?

    Nên mỗi ngày, tôi càng cố gắng tu học, để mình thật sự nhẹ nhàng buông.
    Học bao lâu, tôi không biết.
    Học được không, tôi không biết
    Nhưng tôi sẽ vẫn cứ tiếp tục học nữa, học mãi…

    Hơn thế nữa:

    Tu hay không tu.
    Tu nhiều hay tu ít.
    Có tóc hay không có tóc.
    Tóc dài hay tóc ngắn.
    Đều là những điều rất thiêng liêng.

    Việc trở thành Sa Di Ni trong vòng mười ngày là điều rất thiêng liêng đối với tôi. Mái tóc cũng rất thiêng liêng đối với tôi.Buông được nó cũng là điều rất thiêng liêng đối với tôi. Những bài học đời và đạo sau ngày tôi xuất gia cũng rất đỗi thiêng liêng đối với tôi. Nhiều người hỏi, tôi có đi XG nữa không? Tôi thành thật, tôi không biết. Trong thâm tâm tôi, tôi biết là tôi sẽ tiếp tục , chỉ là không rõ khi nào. Có lẽ, bất cứ khi nào tôi sẵn sàng!

    Tôi sẽ rất biết ơn nếu ai gặp tôi, xin hãy giúp tôi giữ những điều thiêng liêng đó.
    Mọi thứ đến với cuộc đời tôi, đều là một nhân duyên.
    Tôi muốn giữ và nuôi dưỡng những mối nhân duyên đó là những mối Thiện Duyên.

  • Meanings of the Conch Shell: Symbol of Ego, Journey of Transformation

    Ý Nghĩa Của Con Sò: Biểu Tượng Của Bản Ngã, Hành Trình Của Chuyển Hóa

    Thân Hỷ Trường

    Con sò là một sinh vật nhỏ bé, nhưng lại mang trên mình một chiếc vỏ to lớn và nặng nề. Chính sự nặng nề ấy khiến nó chìm xuống, nằm im lìm dưới đáy biển sâu. Trên phương diện tâm linh, con người chúng ta cũng không khác gì con sò ấy. Chúng ta mang một chiếc “vỏ” vô hình nhưng vô cùng nặng trịch và rất lớn: đó là bản ngã. Sự chấp thủ vào bản ngã đè nặng lên tâm thức, kéo chúng ta chìm xuống tận đáy biển sâu của vô minh, khiến ta trầm luân trong luân hồi khổ đau.

    Chiếc vỏ của con sò bao bọc toàn thân nó, khiến nó nằm yên lặng lẽ, không thể di chuyển giữa lòng đại dương mênh mông. Cũng vậy, “bản ngã” với lớp vỏ dày đặc của tập khí và thói quen hữu lậu, bao trùm và trói buộc tâm thức chúng ta. Nó khiến ta đứng yên trong mê muội, không thể cất bước trên hành trình khai mở tâm linh. Vỏ sò rất cứng và khó xuyên thủng, chính sự cứng cáp ấy lại là rào cản khiến con sò không thể tiếp xúc với môi trường linh hoạt của biển cả. Cũng như thế, bản ngã của con người vốn rất kiên cố, hình thành từ vô số định kiến, quan điểm, và cái nhìn nhị nguyên. Nó ngăn ta lắng nghe lời dạy của thầy tổ, thánh hiền, cản trở sự tiếp nhận ánh sáng tuệ giác, khép kín cõi lòng để không thể cảm nhận chân lý đang vận hành khắp vũ trụ.

    Con sò chính là biểu tượng sống động của bản ngã, một thứ không hình tướng, nhưng lại khiến ta luôn tưởng mình là “somebody”, là trung tâm của vũ trụ. Tuy thân nhỏ, nhưng vỏ lại lớn khiến nó tưởng mình to lớn phi thường. Bản ngã cũng vậy: tuy rỗng không, nhưng lại luôn tạo ra ảo tưởng về sự hiện hữu vô cùng trọng đại của nó. Sò thường sống cô lập, lẻ loi dưới đáy biển và không thích hòa đồng với những con sò khác để trở thành một đám sò. Và con người khi bị bản ngã che lấp cũng dễ rơi vào cảm giác đơn độc, tách biệt, sống trong thế giới riêng do chính mình dựng lên. Điều này trái ngược hoàn toàn với hạnh nguyện của Bồ Tát là luôn vượt qua cái “tôi” nhỏ bé để hòa nhập trong chân lý vị tha, và không ngừng mở rộng mạng lưới nhân duyên.

    Muốn sử dụng được chiếc vỏ sò, thì thân sò phải không còn tồn tại trong vỏ của nó nữa. Khi vỏ sò trống rỗng, sẽ được dùng làm ‘loa’. Bên trong của vỏ sò có hình xoắn, làm cho cường độ âm thanh tăng lên nhiều, phần đầu nhọn của vỏ sò thường được cắt một lỗ nhỏ, tạo thành một ống thổi. Miệng vỏ sò loe ra rộng, giúp hướng và phóng âm thanh ra xa, nên âm phát ra to và vang dội. Tượng trưng như trên, nếu chúng ta muốn có khả năng “hú”, nghĩa là kết nối, truyền cảm hứng hay gọi mời người khác được hữu hiệu, thì sự chấp chặt vào bản ngã phải được chuyển hóa. Chỉ khi tâm thức ra ngoài sự kềm tỏa của cái tôi, thì chúng ta mới có thể làm một quản đạo để chuyển vận chân lý.

    Trong pháp tu “Bảo Loa Thủ Nhãn”, con sò không chỉ là một vỏ vật chất vô tri, mà chính là một pháp bảo linh thiêng, có khả năng biến bóng tối thành ánh sáng, có tác dụng chuyển hóa phiền não thành quang minh. Biểu tượng sâu sắc cho triết lý “phiền não tức bồ đề”. Vỏ sò dùng để tu “Bảo Loa Thủ Nhãn” đích thực là một biểu tượng của chuyển hóa. Bóng tối, tượng trưng cho phiền não, vô minh và chướng ngại, khi đi vào trong bụng của vỏ sò, không bị chối bỏ, không bị tiêu diệt mà nhờ vào thần lực của hạt giống quang minh ŚCA nó được chuyển hóa từ từ thành ánh sáng. Khi đi qua lỗ thoát ở đầu vỏ sò ánh sáng ấy trở thành một tia sáng laser phóng thẳng lên bên trên.

    Khi một con sò chết, xác thịt của nó bị tan rã, bị các sinh vật biển rỉa rói. Vỏ sò rỗng rang này bắt đầu một hành trình dài để đến được bờ. Nằm nơi đáy biển sâu thẳm, giữa bùn, cát. Vỏ sò được những dòng hải lưu, sóng ngầm, thủy triều đẩy dần về phía bờ. Hành trình đó không hề dễ dàng, vỏ sò va chạm vào cát, đá. Nó lại có thể bị mắt kẹt vào những cụm rong, rồi lại bi sóng kéo ra ngoài. Những con sò nằm ở đáy biển sâu xa thăm thẳm nhiều khi phải mất cả trăm năm mới có thể tới bờ được. Ở những vùng gần san hô hay hải đảo, nơi thường có nhiều dòng hải lưu và sóng mạnh có thể đưa vỏ sò vào bờ sớm hơn, nhưng đa phần đều phải trải qua thời gian rất dài trong hành trình từ lòng đại dương để đến được bờ biển.

    Khi ta cầm một chiếc vỏ sò lên, cảm nhận được sự bóng láng, trơn tru nơi bề mặt, vì đó là kết quả của biết bao lần va chạm với cát, với san hô, và sự mài mòn không ngừng theo năm tháng. Trái lại, những chiếc vỏ sò còn sống dưới đáy biển thường sần sùi, thô ráp, bởi chưa từng trải qua những va đập vào cát, chưa từng được chà sát với san hô. Đó cũng chính là hình ảnh của hành trình tu tập. Con đường đi đến giác ngộ không thể chỉ tính bằng vài tháng hay một vài năm, mà là sự tích lũy qua cả một đời, thậm chí nhiều đời nhiều kiếp.

    Chúng ta trầm luân trong biển khổ của phiền não, bị cuốn xoáy trong dòng nghiệp lực, duyên phần, nhưng cũng sẽ gặp những dòng pháp lưu vô hình, dần dần đưa ta đến bờ giác.Trên con đường ấy, mỗi lần vấp ngã, mỗi lần gặp nghịch duyên hay trái ý nghịch lòng, chính là một lần ta được mài giũa. Và chỉ khi tâm ta được dồi mài đủ, được rèn luyện đủ bởi nhiều khó khăn, thử thách, thì tâm linh mới tiến hóa, dẫn đến một tâm thức mới vượt khỏi sự chấp kẹt của cái ‘tôi”, ra khỏi bản ngã đầy mê muội và phi lý trí.

    Thông điệp từ con sò dạy cho chúng ta một triết lý sâu sắc. Từ chỗ bị bao bọc, cố định, lặng lẽ nơi lòng đại dương sâu thẳm, chiếc vỏ sò bắt đầu trôi dạt, buông xả, chịu thay đổi, và cuối cùng lên đến bờ. Để rồi chiếc vỏ sò vô dụng ngày nào, nay được dùng làm loa có khả năng phát ra âm thanh vang đi rất xa, nhằm hội tụ, thông tin, báo hiệu đến người khác. Cũng như vậy, mỗi người trong chúng ta đều đang sống trong chiếc “vỏ sò” của chính mình: chiếc vỏ của bản ngã, của cái “tôi” đầy kiên cố và chấp thủ. Nhưng nếu ta có thể buông bỏ đi cái ý niệm sai lầm về “tôi”, biết chuyển hóa từ tâm thức vị ngã sang tâm thức vô ngã, thì cũng như chiếc vỏ sò xưa kia, ta bắt đầu sống một cuộc đời mới, không còn khô cứng, vô vị, mà là một đời sống trọn vẹn, có ý nghĩa, mang lại lợi lạc cho tha nhân.

    Hành trình chuyển hóa ấy không phải là một chặng đường ngắn. Từ nơi chìm lặng dưới đáy biển sâu đến lúc được ai đó nhặt lên, lau sạch và sử dụng, đó là cả một quá trình dài, âm thầm, và đòi hỏi rất nhiều thời gian. Cũng vậy, trên con đường tu tập, chúng ta không thể mong cầu thành tựu nhanh chóng. Cần có sự kiên nhẫn, bền bỉ, và một niềm tin sâu về phật pháp. Đừng bao giờ nghĩ mình là “somebody”; một ai đó quan trọng, đặc biệt. Mà hãy luôn nhắc mình chỉ là một con sò bé nhỏ, đang nằm lặng lẽ dưới đáy đại dương của phiền não và vô minh. Nhưng nếu giữ được lòng khiêm cung, hằng tâm và kiên trì tu tập, thì một ngày nào đó, con sò bé nhỏ ấy sẽ được chuyển hóa và cuối cùng trở thành một pháp khí linh thiêng trong pháp tu “Bảo Loa Thủ Nhãn”, mang lại tác dụng nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.

  • Letter from a first timer Altruistic Home Leaving in Taiwan

    Lá Thư Xuất Gia Vị Tha

    蔡惠玲 - Thái Huệ Linh / Pháp Danh: 親怡慈厚 - Thân Di Từ Hậu

    Lúc còn trẻ, tôi từng ấp ủ một ước mơ xuất gia.Tuy nhiên, mẹ tôi không đồng ý vì bà cần tôi ở bên cạnh để chăm sóc lúc xế chiều. Vì lòng hiếu thảo với đấng sinh thành, tôi đành gác lại nguyện ước của mình, thầm tự nhủ: “Không sao, nếu kiếp này không được, thì kiếp sau tôi sẽ đi xuất gia.”

    Năm tháng trôi qua, cha mẹ tôi giờ đã già yếu. Vào tháng 3 năm 2024, tôi có nhân duyên được đến đạo tràng trên núi của Hội Từ Bi Phụng Sự. Tại đây, tôi được nghe Thầy Hằng Trường giảng dạy về chương trình Xuất Gia Vị Tha (XGVT). Thầy khuyến khích mọi người xuất gia để tu hành thay cho người thân yêu, hồi hướng công đức cho họ. Cốt lõi của chương trình này đã đánh thức sâu sắc trong tôi một sự đồng cảm. Xuất gia để tu thay cho người khác—chính điều ấy đã trở thành động lực thôi thúc tôi tham dự chương trình.

    Với lòng thành tâm và hoan hỷ, tôi phát nguyện hồi hướng tất cả công đức tu học trong thời gian ngắn ngủi này cho cha mẹ tôi, đặc biệt là cho chị gái và em trai—những người chưa có duyên lành để tin hiểu Phật pháp. Từ thuở nhỏ, chị và em tôi thường khiến cha mẹ phiền lòng, và điều đó đã để lại trong tôi một nỗi trăn trở suốt bao nhiêu năm trường. Khi đi XGVT, tôi thành tâm cầu nguyện và hy vọng rằng nhờ công đức tu tập của mình, chị và em tôi sẽ biết thương yêu cha mẹ hơn, biết sống với lòng hiếu thảo hơn.

    Tôi hiểu rằng nhiều người không thể lý giải vì sao một ai đó lại dám buông bỏ tất cả để đi xuất gia. Họ cho rằng đó là một quyết định quan trọng, rất khó làm trong một đời người. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Với tôi, xuất gia chính là sự phát khởi của tâm Bồ Đề—một lý tưởng sống vị tha, vượt ra ngoài mọi sự chấp chặt vào cái tôi. Dù trong kiếp này tôi chưa thể xuất gia trọn vẹn, thì việc tham gia chương trình XGVT chính là gieo một hạt giống lành, một bước chân đầu tiên trên con đường xuất ly sinh tử. Tôi tin rằng nhờ duyên lành này, con đường xuất gia sẽ viên mãn rất nhanh chóng trong một đời sống kiếp sau này.

    Sau khi hoàn tất chương trình và trở về nhà, tôi bất ngờ nhận ra cha mẹ tôi có những chuyển biến tích cực: tâm hồn họ an bình hơn, lời nói nhẹ nhàng hơn, và không khí trong gia đình cũng trở nên ấm áp hơn. Tôi tin rằng chính năng lượng từ bi và tâm nguyện vị tha đã tạo nên sự chuyển hóa ấy. Chương trình XGVT là một phương pháp tu hành thiết thực, sâu sắc và mầu nhiệm. Nó là nhịp cầu nối giữa lý tưởng xuất gia và hoàn cảnh thực tế, giúp tôi sống trọn vẹn với tâm Bồ Đề ngay trong hiện tại.

  • Reflections on the XGVT Journey: A Deep Offering of Gratitude

    Hồi Tưởng Hành Trình XGVT: Một Niềm Tri Ân Sâu Sắc

    Nguyễn Mai Trang

    Tôi đã có duyên tham dự nhiều khóa tu Xuất Gia Vị Tha (XGVT) qua từng năm, bởi hai lý do sâu sắc. Trước hết, lý tưởng của người xuất gia vị tha là một ngọn đèn soi sáng con đường phụng sự và thương yêu—vô cùng cao quý và thực tiễn. Trong gia đình tôi có nhiều người thân yêu—chồng và người em trai đã khuất, cùng với những bà con trong hai họ đang chống chọi bệnh tật, tuổi già và nghịch cảnh. Tình thương dành cho họ luôn âm ỉ trong tim, và hành trì XGVT giúp tôi biến tình cảm ấy thành hành động cụ thể—một dòng suối từ bi có thể đem lại lợi lạc, niềm hy vọng, và ánh sáng xoa dịu.

    Lý do thứ hai là pháp môn mà Thầy truyền trao qua mỗi mùa XGVT ngày một thâm sâu, khai mở. Đặc biệt là những buổi thiền tập đã đem đến cho tôi nhiều chuyển hóa. Lạ thay, trong các thời thiền ấy, tôi cảm thấy thân tâm dễ dàng an trú hơn, thời gian ngồi dường như dài hơn mà không mệt mỏi. Có lẽ vì khoác lên mình hình tướng của người xuất gia—tôi thấy mình buông bỏ dễ hơn những ưu tư, ràng buộc của đời thường. Hoặc có thể do cách Thầy dẫn dắt rất mạch lạc, cân bằng giữa lý và sự, giúp tôi nuôi lớn chánh niệm và phát triển định lực vững vàng.

    Năm 2024, vì sức khỏe suy giảm, tôi buộc phải vắng mặt trong mùa XGVT giữa cái lạnh khắc nghiệt mùa đông. Dù tiếc nuối, tôi vẫn giữ niềm hy vọng sẽ đủ duyên lành quay lại trong năm 2025. Để cầu xin sự gia hộ từ chư Phật và chư Bồ Tát, tháng Tám năm ấy, tôi cùng huynh đệ hành hương đến Castle Mountain ở Canada—nơi thiêng liêng gắn liền với Đức Văn Thù Sư Lợi. Biết rõ đường lên núi dài và gian nan, tôi vẫn không chùn bước, vì nghĩ rằng trong một đời người, mấy ai có cơ hội đặt chân đến nơi linh địa huyền nhiệm như vậy.

    Thật nhiệm mầu thay—suốt tám tiếng đồng hồ vượt đường núi xa xôi, tôi cảm nhận được một năng lượng nâng đỡ cả thân lẫn tâm, như có lực gia trì từ cõi sâu thẳm vô hình. Khi chạm đến đỉnh núi và được cùng đại chúng hành lễ, tôi biết: lời cầu nguyện của mình đã được lắng nghe. Sức khỏe tôi từ đó dần hồi phục, vừa kịp để tham dự XGVT mùa xuân với tất cả lòng thành kính và tri ân dâng lên Tam Bảo.

    Mỗi khi hồi tưởng lại những ngày XGVT, cảm xúc trong tôi như trào dâng, sống dậy nguyên vẹn. Có những khoảnh khắc thật thiêng liêng, như trong đại lễ Mandala: không gian trang nghiêm, thần bí; cả ngàn người cùng tụng niệm thần chú hài hòa như một thân thể lớn, chuyên chú hành trì để soi đường cho các vong linh trở về ánh sáng tự tánh. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn bồi hồi bởi năng lượng tâm linh thuần khiết phát xuất từ lòng chí thành và đại bi nơi đại chúng.

    Rồi có những giây phút ấm áp, chan chứa nghĩa tình đạo vị—như lễ cầu nguyện sức khỏe và trường thọ cho Thầy, do Rinpoche và các vị đồng môn Tây Tạng cử hành. Khi chứng kiến Thầy xúc động bật khóc trước tấm lòng của tăng thân, trái tim tôi cũng rung lên bởi xúc cảm thiêng liêng—một tình Thầy trò khó diễn tả bằng lời.

    Năm nay, được trở lại tham dự XGVT, tôi nhận ra mình đã thay đổi. Tôi thấy lòng mình mở ra hơn, dễ buông bỏ, dễ tha thứ, nhẹ nhàng hơn trong đối diện với khổ đau. Giáo pháp của Thầy giúp tôi không còn bị giam hãm trong cái tôi chật hẹp. Con đường tâm linh giờ đây trải ra thanh thản, sáng rõ và đầy an lạc. Với tất cả lòng biết ơn sâu sắc dành cho Thầy và những người bạn đồng tu, tôi xin nguyện tiếp bước hành trình tu tập và lan tỏa tình thương chân thật ấy đến muôn phương.

  • My Dharma Protector Journey

    Hành Trình Bồ Tát Hộ Pháp Của Tôi

    Thu Nga Nguyễn – Thân Khai Nhiên

    Tôi tên là Thu Nga. Năm 2017, một chị bạn mời tôi tham dự Pháp Hội và Mandala tại Long Beach. Duyên lành hy hữu này đã thay đổi toàn diện đời sống tâm linh của tôi. Ngay từ khi bước vào hội trường, tôi đã vô cùng kinh ngạc trước cách bày trí và trang hoàng—tất cả đều tinh tế và mỹ thuật.

    Khi vào chánh điện, lòng tôi chấn động trước khung cảnh trang nghiêm chưa từng thấy ở bất kỳ ngôi chùa nào. 

    Các anh chị thiện nguyện viên của Hội Từ Bi Phụng Sự đón tiếp tôi với sự ân cần và niềm nở. Lời chào nhã nhặn và thái độ thân thiện của họ khiến lòng tôi tràn ngập một niềm vui nhẹ nhàng—sự khai mở trong tâm mà tôi chưa từng cảm nhận trước đây. Ngày hôm đó, tôi chợt mong muốn được đồng hành cùng các anh chị thiện nguyện viên trong công việc phục vụ. Thật ra, từ lâu tôi đã có tâm nguyện đóng góp sức lực để cống hiến cho cộng đồng, nhưng vẫn do dự vì chưa tìm được một tổ chức phù hợp. 

    Sau hai ngày tham dự Pháp Hội, tôi bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về Hội Từ Bi Phụng Sự. Thật may mắn, tôi nhận thấy phương hướng và cách tổ chức của hội chính là điều tôi hằng mong ước. Tinh thần thiện nguyện của hội không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ, mà còn mang theo sự hy sinh, quên mình vì tha nhân—đúng với lý tưởng phục vụ mà tôi đã khát khao bao năm tháng. 

    Từ đó, tôi chính thức trở thành thành viên của hội. Điều này giúp tôi phát triển trên nhiều phương diện—từ thể xác đến tâm trí, từ tâm lượng đến tâm linh. Chương trình tu học theo đạo Bồ Tát mà Thầy hướng dẫn đã giúp tôi khai mở tâm, để rồi cả hai con đường đạo và đời theo đó mà trở nên sáng tỏ hơn. Tôi cảm nhận rõ ràng sứ mạng của mình trong cuộc đời. 

    Từ khi tham gia chương trình Bồ Tát Hộ Pháp, những ý nghĩa và mục đích của con đường này ngày càng rõ nét trong tôi. Hành động phục vụ tha nhân không chỉ là một lựa chọn, mà đã trở thành một phần không thể thiếu trong sự tu tập của tôi. Bây giờ, tôi đã tham gia chương trình Bồ Tát Hộ Pháp ba năm liên tục. Tôi chứng kiến sự tu tập của các tăng ni Xuất Gia Vị Tha với lòng kính trọng sâu sắc, và không ngần ngại dốc tâm sức nhỏ bé của mình để trợ lực họ trên hành trình tu học. Đây cũng là cơ hội để tôi mang những gì đã học trên con đường Bồ Tát Đạo vào thực hành đời sống thực tế. 

    Như lời Thầy dạy, tu toàn diện chính là sự cân bằng giữa xuất tục và nhập thế. Tôi vô cùng tri ân Thầy đã nuôi dưỡng tâm bồ đề của tôi. Mỗi năm, Pháp Hội và Mandala lại mang đến cho tôi những kỷ niệm ấm áp và lòng cảm kích sâu đậm đối với chư Phật, chư Bồ Tát—đã cho tôi nhân duyên tu hành và gặp được Thầy, người khai tâm, mở lòng. Điều quý giá nhất mà tôi nhận được từ Thầy chính là sự giúp đỡ để tôi tìm ra sứ mạng đời mình—trong đó có tâm nguyện trở thành một Bồ Tát.

  • My commitment to the altruistic monastic life

    Hạnh nguyện xuất gia vị tha của tôi

    Hạnh nguyện xuất gia vị tha của tôi, cũng như của tất cả các bạn đồng tu trong tăng đoàn, chỉ đơn giản là gửi gắm lòng thành vào sự tu tập, mong mang lại lợi ích và an lạc cho người khác, cho một điều gì đó cao đẹp hơn bản thân mình. 

    Năm đầu tiên, tôi hồi hướng công đức cho sức khỏe của cha tôi. Những năm tiếp theo, tôi cầu nguyện cho thế giới hòa bình, đặc biệt là cho những nạn nhân của cuộc chiến tranh tại Ukraine. Rồi tôi hướng về quê hương miền Trung, mong sao thiên tai lũ lụt không còn gây đau thương. Năm nay, tôi phát tâm xuất gia để tu tập thay cho những người bạn thân—những người rất muốn đi xuất gia nhưng chưa thể. Dẫu cho mỗi năm, mỗi lý do xuất gia có khác nhau, nhưng tôi luôn cảm thấy lòng mình rộn rã niềm vui khi được góp phần vào sự chuyển hóa, nâng đỡ và đem lại hy vọng cho người khác. 

    Cũng chính nhờ động lực tu tập thay cho ai đó mà tôi vượt qua được những khó khăn trong suốt khóa tu học. Tôi luôn ghi nhớ lời nhắc nhở của Thầy: đi xuất gia thì không ngại khổ, không ngại khó, không ngại kẹt. Khi nuôi dưỡng một tâm nguyện vì lợi ích của người khác, mọi điều bất như ý đều chỉ là những thử thách trên con đường tu tập. 

    Tôi tri ân Thầy vô cùng. Trong khóa tu học xuất gia vị tha năm nay, Thầy đã truyền dạy những bài học sâu sắc với phương pháp thực tập rõ ràng từng bước, từng phần. Dù trình độ tu tập của tôi không cao, tôi vẫn có thể theo dõi, thực hành mà không gặp trở ngại. Tôi tự nhủ sẽ tiếp tục thực hành phương pháp “Cột Trụ Quang Minh” mỗi ngày. Tôi thật may mắn khi được gặp Thầy và cảm thấy hạnh phúc trên con đường tu tập theo sự hướng dẫn của Người. 

    Làm sao đo lường được sự mãn nguyện của mình, các bạn nhỉ? Riêng tôi, sự mãn nguyện của khóa tu xuất gia năm nay thể hiện qua một cuộc sống an lạc và tốt đẹp hơn—một cuộc sống lan tỏa đến những người thân yêu, giúp họ có thêm niềm vui và bình an. Tôi mong rằng sự chuyển hóa này sẽ ảnh hưởng đến cộng đồng, gieo mầm lành mạnh vào từng trái tim, và nuôi dưỡng ước nguyện lợi lạc cho tất cả. Cuối cùng, tôi xin nguyện sẽ tiếp tục bước đi vững chãi trên con đường Bồ Tát Đạo, không gián đoạn.

    Kim Xuân Lý

    Thân Nghinh Xuân

  • Sangha 2025 – Letter of Appreciation

    XGVT 2025 - Thư Cảm Kích

    Kính chào các Sư Huynh, Sư Tỷ,

    Như một sự bày tỏ lòng tri ơn chân thành, chúng em xin gởi tấm giấy chứng nhận sự tham dự cho khóa tu 12 ngày của chương trình Xuất Gia Vị Tha năm 2025 đến tất cả sư huynh và sư tỷ.

    Sống một cuộc sống tu viện thật giản dị, cắt đứt mọi liên hệ thế tục và buôn bỏ đời sống thế gian trong mười hai ngày không phải là một việc dễ làm. Sự cam kết và kiên tâm của các sư huynh, sư tỷ chính là sự biểu tượng cho tâm nguyện và lòng hy sinh đến một người thân yêu của mình. Giá trị tâm linh cao đẹp này không sao đo lường được.

    Tờ giấy chứng nhận này cũng là một thông điệp nói rằng sự tu tập không kết thúc ở đây. Mà thật ra giáo pháp thâm sâu “Quang Minh Trụ” chỉ đánh dấu sự khởi đầu cho hành trình tâm linh màu nhiệm hướng tới việc chứng ngộ tâm bồ đề của chúng ta. Vì vậy, chúng em thân mời các sư huynh, sư tỷ tích cực tham dự vào việc học hỏi và huấn luyện liên tục trong suốt cả năm, dẫn đến khóa tu Xuất Gia Vị Tha vào cuối tháng Ba - đầu tháng Tư năm 2026.

    Viễn kiến của chúng em là xây dựng tăng đoàn của những người tu hành. Do vậy, chúng em trong ban tổ chức luôn quan tâm để làm sao sự phục vụ đến những người tham gia chương trình tu học được thành tựu và thường tự hỏi: "Các sư huynh, sư tỷ đã thu nhận được điều gì từ khóa tu Xuất Gia Vị Tha ?" Và câu trả lời tuy đơn thuần nhưng cũng là cốt lõi thiết yếu nhất của tăng đoàn: “Chúng em hy vọng tất cả các sư huynh và sư tỷ đều hấp thụ được giáo pháp. Mọi thứ khác là một phần thưởng thú vị bên cạnh mà thôi.

    Đây là con đường chúng em đang tiến về phía trước, và còn rất nhiều việc cần phải thực hiện. Sự tham gia của tất cả sư huynh, sư tỷ là một bước tiến quan trọng trên con đường này.

    With appreciation,

    Khai Nghiêm

    CompaSS Sangha Leader

  • I have returned Home

    Con đã trở về nhà rồi

    Thân Khai Phong

    Đã có những ngày dài, vì bệnh hoạn mà tôi rời xa tập thể, sống trong bóng tối, không tiếp xúc với người chung quanh, hạn chế ngay cả với người thân trong gia đình.

    Cho đến một ngày, được biết còn vài tuần nữa WPG 2022 sẽ được tổ chức tại Anaheim CA thì tôi như bừng tỉnh. Ký ức những lần đi XGVT ở Big Bear tôi đã nhận được sự chỉ dạy của Thầy, được đứng trong hàng ngũ tăng đoàn, sinh hoạt tu tập cùng với những người bạn đạo tụ họp về khoá tu XGVT ùa về. Lòng tôi bỗng dấy lên sự hân hoan náo nức khó tả.

    Rồi cuối tuần đó, tôi chuẩn bị đi đến center để cùng sinh hoạt với các đạo hữu mà đã từ lâu tôi không đến tham gia. Các anh chị em vẫn chào đón thân tình, lan tỏa tình cảm ấm áp, động viên tinh thần, khuyên tôi nên đến sinh hoạt thường xuyên hơn làm cho tôi rất cảm động và hứa sẽ trở lại. Tiếp theo sau đó, lúc chuẩn bị vật dụng để đi Anaheim dự Mạn đà la, lòng tôi tràn đầy hạnh phúc để đến tham dự Pháp hội.

    Lại một lần nữa gặp những người bạn đạo đến từ các tiểu bang trên nước Mỹ, có bạn đến từ Canada, Germany. Họ đã ôm chầm lấy tôi, mừng mừng tủi tủi vì từ lâu không gặp và có lẽ ai cũng cảm động khi nhìn tôi bây giờ không con mạnh mẽ như xưa và phải dùng walker để di chuyển.

    Suốt hai ngày ngồi trong hội trường tham dự mọi sinh hoạt, nghe Thầy giảng pháp, lạy sám, thắp nến, … Đặc biệt nhất là tôi dã có cơ duyên được diện kiến Thầy, được Thầy nhận diện ra, được Thầy nắm tay truyền năng lượng, được Thầy gõ đầu cho mau tinh tấn. Tôi cũng được gặp Thầy Hằng Đức và hai vị cao tăng mà tôi không biết rõ tên.

    Trở về nhà với tinh thần phấn khởi vui vẻ, tôi bắt đầu tham dự những nhóm học với các bạn đạo như tập thể dục, lạy sám hối, chia sẻ Phật Pháp, học kinh Hoa Nghiêm và thường xuyên đến trung tâm địa phương cuối tuần để tu học, sinh hoạt với các đạo hữu. Tôi nhớ lại và đọc thuộc lòng chú Đại Bi mà tôi tưởng mình đã quên. Hằng ngày tôi chăm chỉ ngồi đọc kinh sách, ôn tập các bài pháp của Thầy, học ôn những bài chú …

    Con cảm ơn Thầy dạy đạo cho con. Cảm ơn các anh chị em đã lan tỏa tình thương và động viên con tiếp tục tu học. Cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ con đã tìm lại được mạng lưới nhân duyên của mình. Thầy ơi, các bác ơi, con đã trở về nhà rồi.

  • New Year – New Vows

    Năm mới - Tâm nguyện mới

    Hoàng Kim Yến – Thân Lạc

    Lúc nhỏ Thân Lạc thường hay đến chùa sinh hoạt trong gia đình Phật Tử, đuợc nhiều cơ hội tiếp xúc với các sư cô. Quý sư cô đó có những bước chân rất khoan thai và tự tại, sống hài hòa và trân quý những mầu nhiệm của đất trời.

    Những hình ảnh cao đẹp, cảm động đó là một ước nguyện chôn sâu trong lòng của Thân Lạc lớn lên sẽ đi xuất gia giao duyên thắp lên từ ấy. Nhưng năm tháng lặng lẽ trôi qua, bận rộn với miếng cơm, manh áo, Thân Lạc cũng quên đi ước nguyện lúc nhỏ, cho đến một ngày được nghe Thầy Hằng Trường giảng về bài "Tu Dùm”.

    Theo bước chân Phật, Thân Lạc quyết định phát nguyện đi xuất gia giao duyên để tu cho mẹ với ước nguyện hồi hướng tất cả phước lành về cho mẹ, bằng cách nỗ lực phát huy hiếu tâm, hiếu dưỡng, hiếu kính và hiếu thuận đối với người mẹ thân thương của mình.

    Trong 10 ngày tu tập ở trên vùng Big Bear Lake, Thầy Hằng Trường đã dạy phương pháp Hoa Nghiêm thủ nhãn, thông qua những đồ vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày, ta cảm nghiệm được chân lý màu nhiệm: sự thường hằng bất biến của Chân Tâm, sự thường luôn khai mở của Bồ Đề Tâm.

    Nguyện nói gương sáng của Thầy Hằng Trường, Thân Lạc sẽ nỗ lực tinh tấn tụ tập để tâm thức được khai mở, luôn hiển hiện sức mạnh thiện tánh để chuyển hóa mình và người trong từng giây phút của cuộc sống. Với tất cả lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, Thân Lạc xin cúi đầu đảnh lễ Thầy và tăng đoàn Xuất Gia Vị Tha 2022.

    Thân Lạc

  • Meditation Joy

    Thiền Duyệt

    Mỗi ngày nên ngồi thiền 
    Tập thư giãn an nhiên
    Tỏa lan tình ấm áp
    Tới những ai buồn phiền

    Hãy tự tại thân tâm
    Buông giằng co âm thầm
    Bỏ tranh chấp hiềm tỵ
    Mở khai lòng từ bi

    Hãy tự tại thân tâm
    Buông giằng co âm thầm
    Bỏ tranh chấp hiềm tỵ
    Mở khai lòng từ bi

    Hoàng Tâm

  • The Beauty of Altruistic Home Leaving

    Nét Đẹp của XGVT

    Lê Mẫu Đơn – Thân Hàm Mẫn

    Hằng năm trở lại với XGVT đoản kỳ, tôi có cảm giác như trở về lại mái nhà thân thương của tuổi ấu thơ đầy vô tư và đầm ấm vì tôi đã trở về với Phật, Pháp, Tăng, trở về với Chân, Thiện, Mỹ. Xuất thế tục gia là

    rời khỏi nhà thế tục, tôi về lại ngôi nhà xưa của Chân Tâm. Xuống tóc, tôi như vứt xuống chiếc bọc nặng trĩu, hành trang của phiền não, hành trang trách nhiệm với công việc và với đời sống hằng ngày. Như đứa trẻ, từ phương xa trở về, xà vào lòng cha mẹ, tôi sung sung ngã lòng nương tựa vào Phật.

    Nơi đây , tôi nhận được sự vỗ về ấm áp và bàn tay xoa dịu, lành trị những vết thương lòng từ Ngài Quán Âm, Hòa Thượng Thượng Tuyên Hạ Hóa và Sư Phụ Hằng Trường. Như bậc cha mẹ, sư phụ lo lắng cho đám con từ giấc ngủ với đầy đủ chăn mền, lò sưởi vừa đủ ấm, đến từng chế độ ăn uống thanh đạm nhưng bổ dưỡng và thanh lọc lành trị. Tôi không còn phải lo nghĩ cơm ngày ba bữa. Thay vào đó, hằng ngày tôi lạy sám hối với Đức Phật , Cha Mẹ, Sư Phụ và tất cả các chúng sanh xin tha thứ những lỗi lầm mà tôi đã mắc phải vì bóng tối trong tâm tư do bản ngã bản ngã tạo ra.

    Về nương tựa Phật, phủ phục bên Sư Phụ như phủ phục bên cha mẹ để hứng thêm chánh pháp. Uống những lời dạy của chân lý vô thượng làm hành trang để tiếp tục con đường Bồ tát đạo.

    Khi tham dự khoá XGVT, bên cạnh thọ mười giới tập sự là người tu chân chính, tôi còn được thọ nhận và nương tựa vào Pháp Bảo Bát và Pháp Lục Tý. Pháp Bảo Bát giúp tôi tu tập sự tĩnh lặng của đại địa để tâm lượng trải rộng dung nạp vạn sự, chấp nhận mọi kinh nghiệm sống và chuyển hóa nghiệp lực sâu dày. Pháp Lục Tý (sáu tay) giúp tôi nhận biết được khả năng sử dụng phương tiện thiện xảo (tay) với cái nhìn và quan điểm đầy trí huệ (mắt) để nhập thế cứu đời, cứu người . Tôi như được trang bị vững vàng hơn để hướng thân vào con đường hành Thiện.

    Năm nay, tôi được biết nếu tham dự khoá XGVT, ta sẽ được thọ Pháp Tứ Liên Hoa thật đặc biệt. Chúng ta sẽ được tập luyện quán tưởng hoa sen để thấy quá trình hoa sen từ trong bùn vươn lên nước, ra khỏi nước, vượt lên trên không gian tương tự quá trình tâm thức ta đi từ tiềm thức ra ý thức đến siêu ý thức làm ta phát triển được trực giác nhận tri lý nhân quả từ hạt giống lớn lên thành đóa sen. Đó là nguyên lý hằng bất biến.

    Hằng năm, trở lại với tăng đoàn, tôi đều có cảm giác quen thuộc y như lần đầu tham dự Xuất Gia Vị Tha. Vừa bước xuống xe là anh chị em từ khắp bốn phương ôm nhau mừng rỡ như đã từng sanh ra và lớn lên trong một gia đình, cảm giác rất thân và rất gần gũi như đã từng gặp và thân nhau lâu lắm rồi. Vì tất cả chúng ta cùng trong mạng lưới nhân duyên nhiều đời mà tiềm thức của ta được đánh thức trong giây phút này.

    Như đám trẻ vô tư trong một đại gia đình, tôi chỉ biết đúng giờ thức dậy, cắp sách đến trường học Pháp, đúng giờ ăn thì ăn, đúng giờ ngủ thì ngủ, cùng nhau tập Càn Khôn Thập Linh, thể dục sống vui, khỏe. Cùng nhau đi hành thiền trong những rừng cây, tọa thiền trên những tảng đá của đỉnh đồi, xa rời thế tục, trở về gần gũi với thiên nhiên. Giữ chánh niệm khi thiền định, thọ giáo pháp, tu tập và thọ trai nhưng vẫn có những giây phút nghịch ngợm, leo trèo trên những chiếc giường tầng như trẻ thơ, hoan hỉ chia sẻ niềm vui, tiếng cười, thương yêu chăm sóc lẫn nhau, sinh khởi tình thương chân thật, không những cho những người thân thương ta tu giùm, mà cho cả những người ta gặp và sống gần bên nhau trong khoảng thời gian ngắn của khoá tu đoản kỳ! Đây là điểm đặc biệt của tăng đoàn trong thế kỷ 21. Một tăng đoàn rất dễ thương, dễ mở, dễ chịu, dễ thở!

    Đó là lý do tại sao những ai đã tham gia khóa Xuất Gia Vị Tha thì cứ "ghiền" và đi mãi. Như một món ăn, chính tự ta ăn vào miệng thì mới cảm nhận hết những hương vị thật sự. Cũng vậy, Xuất Gia Vị Tha là con đường được nhiều người chỉ dẫn và mô tả cho ta, nhưng chỉ khi ta tự mình đi trên con đường này thì mới cảm nhận hết tất cả những điều tuyệt đẹp. Một tăng đoàn gỡ bỏ thắt gút và liên kết thành mạng lưới quang minh bằng hàng trăm hạt Như Ý Châu của Chân Tâm.

    Lê Mẫu Đơn

  • The Power of Love

    Sức mạnh Tình thương

    Nguyễn Thị Mộng Vân –
    Thân Hoá Tự

    Vân và cô em Út cùng làm chung sở nên hai chị em có nhiều thời gian bên nhau và chia sẻ buồn vui dễ dàng hơn. Một ngày đầu xuân 2006, trong lúc đang làm việc, cô em chạy đến vừa nói vừa giàn giụa nước mắt cho biết kết quả thử máu của cô con gái cưng mới tròn 6 tuổi bị ung thư máu cấp tính.

    Một bệnh nan y mà sự sống rất mong manh, niềm hy vọng được chữa trị cũng rất nhỏ nhoi. Lòng Vân chùng xuống, bàng hoàng và mọi thứ dường như sụp tối trước mắt mình.

    Vân theo Thầy học pháp từ năm 2005, nhưng ngay cả ý định XGVT cũng chưa hề loé lên trong tâm khảm của Vân nữa. Thương cháu lắm mà không biết phải làm gì lúc đó.

    Cô em út thương xót cho con bé lắm. Em đã tạm nghĩ việc ở sở chỉ để ở nhà chăm sóc cho cháu. Đi đâu một xíu cũng chỉ muốn vội vàng chạy về ngay để tranh thủ từng giây từng phút ôm cô con gái bé bỏng vào lòng, vì con là nguồn năng lực sống của em. Cho đến một ngày, em gọi cho Vân khóc sướt mướt trên phone, nói rằng ngày mai em phải mang cháu đi làm hoá trị. Em không đủ can đảm để nhìn thấy con gái bé bỏng của mình bị chữa trị như vậy. Xót lắm thay! Ngay lúc đấy, ý nghĩ xuất gia cho cháu tự dưng chợt bùng khởi không gì có thể cản lại được. Từ những giây phút chấn động đến tâm can Vân, Vân cảm thấy mình vẫn còn rất may mắn hơn tất cả những ai đang chịu khổ chịu đau và Vân vẫn luôn cầu nguyện cho cháu mãi cho tới hôm nay.

    Giờ đây, cháu gái đã là cô thiếu nữ xinh đẹp, thông minh. Tuy mới 22 tuổi nhưng đã có bằng master Bio-Chem và đã đi làm rồi. Chính cháu đã làm Vân thay đổi thành một con người mới sống có trách nhiệm hơn, có đủ can đảm bước ra khỏi những cố chấp xưa nay của mình. Bây giờ nhìn lại mới thấm thía câu “Khi tình thương đủ lớn thì mọi giới hạn đều được xoá nhoà!”

    Lời cuối, Vân xin tri ân Sư Phụ và quý sư huynh sư tỷ đã đồng hành cùng Thầy tạo nên chương trình XGVT, cùng nhau đồng lòng tạo nên tăng đoàn rường cột trong Mandala hàng năm giúp cho tất cả mọi người có cơ hội được tu tập, cơ hội được lắng lòng nhìn lại mình và cơ hội để sống và hy sinh cho những người mình thương yêu.

    Mộng Vân

Tiếng Việt